Thursday, 6 July 2017

PHÂN TÍCH MỘT CASE ĐAU BỤNG HỒI QUI



CÂU TRẢ LỜI:
Bệnh sử trên là một bệnh sử kinh điển về bệnh sốt Địa Trung Hải có tính gia đình (FMF). Bệnh nhân có những cơn sốt kèm với những cơn đau vùng bụng giống hệt những cơn đau do viêm phúc mạc lúc thăm khám. Đau khớp, viêm màng phổi và viêm màng ngoài tim cũng thường gặp trong các đợt bùng phát của FMF.

FMF là tình trạng có tính di truyền lặn trên NST thường, có liên quan đến đột biến ở gen MEFV.

Xử trí cấp cho FMF thường điều trị hỗ trợ triệu chứng, như truyền dịch và giảm đau là đủ giúp bệnh nhân thoải mái hơn cho đến khi qua cơn bùng phát. Đáng tiếc rằng, trong những đợt đau ban đầu, các bác sĩ thường hay chẩn đoán là bệnh viêm ruột thừa và bệnh nhân phải trải qua cuộc phẫu thuật cắt bỏ ruột thừa không cần thiết.

Colchicine, một loại thuốc thường dùng trong bệnh Gout và các tình trạng khác về khớp, thường được sử dụng nhằm giảm đi tần suất phát cơn. Cơ chế tác động của colchicine chưa được hiểu rõ và thường BN kém chịu thuốc.

Bệnh nhân bị FMF thường tiến triển thành hội chứng thoái hóa dạng tinh bột (amyloidosis), một tình trạng tích tụ protein bất thường ở thận, tim và phổi dẫn đến những biểu hiện của bệnh.

Chẩn đoán thường được đưa ra nhờ vào những lần đau lặp đi lặp lại trong quá khứ, đặc biệt là khi có người thân đã được chẩn doán bị FMF. Nếu vẫn nghi ngờ chẩn đoán, có thể tiến hành xét nghiệm di truyền học để xác minh gen MEFV bị đột biến.

THAM KHẢO:
1. Tác giả tại dieutri.vn. (21/11/2016). Sốt địa trung hải gia đình (chẩn đoán và điều trị). Lấy lại từ http://www.dieutri.vn/chandoantieuhoa/21-11-2016/s8296/sot-dia-trung-hai-gia-dinh-chan-doan-va-dieu-tri.htm

2. Mayo Clinic Staff. (21/8/2015). Diseases and Conditions: Familial Mediterranean fever. Lấy lại từ http://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/familial-mediterranean-fever/basics/definition/con-20025734

KEY POINTS
FMF là đột biến di truyền trên gen lặn ở người thuộc vùng Địa Trung Hải.
Người bệnh thường bị các đợt viêm tái đi tái lại, chẳng hạn cơn đau ở bụng; viêm cơ, viêm màng ngoài tim và màng phổi cũng có thể xuất hiện.
Bệnh nhân thường được cho thuốc có chứa Colchicine để phòng ngừa các cơn đau. Thuốc cũng giúp làm chậm quá trình tiến triển thành hội chứng thoái hóa tinh bột.

Tuesday, 4 July 2017

PHÂN TÍCH MỘT CASE KHÓ THỞ


Hình ảnh XQ ngực:


BN đang có đang vào cơn phù phổi. Ông được biết là có bệnh suy tim nhưng tình trạng này đã xấu đi trong hơn 2 tuần qua. Ông đã ngừng dùng thuốc lợi tiểu bởi tác dụng phụ của thuốc làm ông phải đi tiểu nhiều. Điều này dẫn tới quá tải dịch, với những dấu hiệu của suy tim phải như tăng áp lực tĩnh mạch cảnh, phù ngoại biên, và ran ẩm gợi ý phù phổi cấp.
Nên cho bn thở oxy qua mask để cải thiện cảm giác khó thở và tình trạng hạ oxy máu. Đặt catheter để theo dõi chĩnh xác lượng nước tiểu chảy ra và đánh giá thường xuyên tình trạng cân bằng dịch của bn.
Thuốc lợi tiểu quai (như furosemide) sẽ cần tới để loại hết dịch ứ phổi, với liều duy nhất hoặc truyền tĩnh mạch với chuẩn độ phù hợp với huyết áp bệnh nhân, vì khi dùng lợi tiểu có thể làm hạ huyết áp bn xuống. Nhưng thật ra ban đầu nên dùng dịch truyền tĩnh mạch hơn đường uống, bởi vì bệnh nhân bị ứ dịch nên có thể bị phù nề thành ruột làm giảm sự hấp thu các chất qua đường tiêu hóa.
Thuốc giãn mạch dạng truyền tĩnh mạch như glyceryl trinitrat cũng có tác dụng loại bỏ dịch ứ ở phổi như furosemide trong trường hợp này. Đôi khi, thuốc giảm đau có thể được dùng để giảm cảm giác khó thở cho Bn.
Với những BN có huyết áp đang thấp, không thể dùng lợi tiểu hay glyceryl trinitrat, hoặc những Bn vẫn còn hạ oxy máu dù đã có điều trị bằng thuốc kể trên, thở máy không xâm nhập (NIV) có thể giúp ích. NIV có thể tái phân bố dịch trong phổi và  mở banh các phế nang đang bị xẹp bằng áp lực dương. NIV giúp giảm công hô hấp và giảm cả tiền gánh lẫn hậu gánh.

Monday, 22 May 2017

PHÂN TÍCH CASE TIÊU CHẢY TỪ SAU DÙNG KHÁNG SINH



Câu hỏi:
1/ tại sao bn bị tiêu chảy?
2/ XQ cho thấy cái gì?
3/ Bước xử trí tiếp theo là gì?

Sunday, 21 May 2017

PHÂN TÍCH CASE LÂM SÀNG ĐAU ĐẦU Ở NỮ TRẺ


Theo bạn, dựa trên ls và hình ảnh học, thì chẩn đoán có thể đưa ra nhất là gì?